Sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập hai

Giải Bài 3 trang 77 SGK Ngữ văn 9

Thực hành tiếng Việt: Lựa chọn câu đơn hoặc câu ghép, các kiểu câu ghép   Gợi ý trả lời

Đề bài

NGỮ LIỆU: Có thể nói, với "Người con gái Nam Xương", Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì. Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ, nàng chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực. Phản ánh số phận Vũ Thị Thiết, Nguyễn Dữ

Đọc đoạn văn sau và thực hiện nhiệm vụ nêu ở dưới:

Có thể nói, với "Người con gái Nam Xương", Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì. Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ, nàng chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực. Phản ánh số phận Vũ Thị Thiết, Nguyễn Dữ
a. Chỉ ra các câu đơn và câu ghép trong đoạn văn.

b. Thử tách các vế của câu ghép thành những câu đơn và nhận xét sự khác nhau về nội dung biểu đạt của câu ghép với những câu đơn vừa được tách ra.

Gợi ý trả lời

## a. Chỉ ra câu đơn và câu ghép

Xét số cụm chủ – vị (C–V) nòng cốt trong mỗi câu:

Câu 1 – CÂU ĐƠN:

> *Có thể nói, với "Người con gái Nam Xương", Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì.*

- Thành phần *Có thể nói* và *với "Người con gái Nam Xương"* là thành phần phụ (thành phần biệt lập / trạng ngữ), không phải nòng cốt câu.
- Nòng cốt chỉ có một cụm C–V:
- C: *Nguyễn Dữ*
- V: *đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì*.
- → Câu chỉ có một cụm C–V ⇒ câu đơn.

Câu 2 – CÂU GHÉP:

> *Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ, nàng chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực.*

- Câu có hai cụm C–V không bao chứa nhau:
- Vế 1: *Vũ Nương* (C) / *không phải là hình tượng một trang liệt nữ* (V).
- Vế 2: *nàng* (C) / *chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực* (V).
- Hai vế nối với nhau bằng dấu phẩy (không dùng từ nối), biểu thị quan hệ tương phản – bổ sung.
- → Câu có hai cụm C–V ngang hàng ⇒ câu ghép.

*(Câu cuối "Phản ánh số phận Vũ Thị Thiết, Nguyễn Dữ…" trong ngữ liệu bị cắt dở, chưa đủ nòng cốt nên không xét.)*

## b. Tách các vế của câu ghép thành câu đơn và nhận xét

Tách câu ghép ở Câu 2 thành hai câu đơn:

1. *Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ.*
2. *Nàng chỉ là một người đàn bà bình thường như bao người vợ, người mẹ trong đời thực.*

Nhận xét sự khác nhau về nội dung biểu đạt:

- Dùng câu ghép: Hai vế đặt liền kề trong một câu, kết hợp cặp ý *không phải là… – chỉ là…* tạo nên quan hệ tương phản, đối lập chặt chẽ. Nhờ đó, câu nhấn mạnh sự đối chiếu giữa hình tượng "trang liệt nữ" (phi thường, theo công thức truyền kì) với "người đàn bà bình thường" (đời thực), làm nổi bật ý khái quát: Vũ Nương là một con người đời thường, gần gũi. Ý nghĩa liền mạch, logic, giàu sức khẳng định.

- Khi tách thành hai câu đơn: Về cơ bản vẫn giữ được thông tin, nhưng quan hệ tương phản giữa hai ý trở nên rời rạc, lỏng lẻo; sắc thái đối chiếu – nhấn mạnh bị giảm đi, mạch văn bị ngắt quãng, tính liên kết và sức biểu cảm của câu không còn chặt chẽ như câu ghép.

→ Kết luận: Việc dùng câu ghép giúp thể hiện rõ mối quan hệ ý nghĩa giữa các vế (ở đây là quan hệ tương phản), làm cho nội dung biểu đạt cô đọng, liền mạch và nhấn mạnh hơn so với khi tách thành những câu đơn riêng lẻ.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.