Sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập một

Giải Bài 3 trang 85 SGK Ngữ văn 9

Củng cố, mở rộng   Gợi ý trả lời

Đề bài

Tự chọn một đoạn thơ (tối thiểu 12 câu) trong Truyện Kiều (Nguyễn Du) hoặc Truyện Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) và thực hiện các yêu cầu sau:

a. Xác định bố cục của đoạn trích và nêu ý chính của từng phần.

b. Phân tích hình tượng thiên nhiên hoặc hình tượng con người trong đoạn trích.

c. Chỉ ra những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.

Gợi ý trả lời

Đoạn trích tự chọn: “Cảnh ngày xuân” (trích *Truyện Kiều* – Nguyễn Du, 18 câu)

> Ngày xuân con én đưa thoi,
> Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
> Cỏ non xanh tận chân trời,
> Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
> Thanh minh trong tiết tháng ba,
> Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
> Gần xa nô nức yến anh,
> Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
> Dập dìu tài tử giai nhân,
> Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
> Ngổn ngang gò đống kéo lên,
> Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
> Tà tà bóng ngả về tây,
> Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
> Bước dần theo ngọn tiểu khê,
> Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
> Nao nao dòng nước uốn quanh,
> Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

## a. Bố cục và ý chính từng phần

Đoạn trích chia làm ba phần:

- Phần 1 (4 câu đầu): Khung cảnh thiên nhiên mùa xuân trong sáng, tươi đẹp, tràn đầy sức sống.
- Phần 2 (8 câu tiếp): Khung cảnh lễ hội đông vui, nhộn nhịp trong tiết Thanh minh (lễ tảo mộ và hội đạp thanh).
- Phần 3 (6 câu cuối): Cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về khi chiều tà, cảnh vật nhuốm tâm trạng bâng khuâng, lưu luyến.

## b. Phân tích hình tượng thiên nhiên

Em chọn phân tích hình tượng thiên nhiên mùa xuân – nổi bật nhất ở bốn câu đầu và được khép lại ở sáu câu cuối.

- Thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, khoáng đạt, giàu sức sống (4 câu đầu): Hình ảnh *“con én đưa thoi”* vừa tả cánh én rộn ràng chao liệng giữa trời xuân, vừa gợi bước đi nhanh của thời gian. Câu *“Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”* cho biết đã sang tháng ba, ánh sáng xuân đẹp đẽ. Hai câu *“Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”* là bức họa tuyệt bút: nền trời là thảm cỏ non xanh trải rộng đến tận chân trời, điểm trên nền xanh ấy là sắc trắng tinh khôi của hoa lê. Chữ *“điểm”* khiến cảnh vật trở nên sinh động, có hồn chứ không tĩnh lặng. Màu sắc hài hòa (xanh làm nền, trắng làm điểm nhấn) gợi vẻ mới mẻ, tinh khôi, thanh khiết, tràn trề sức sống của mùa xuân.

- Thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng (6 câu cuối): Cũng là cảnh ngày xuân nhưng lúc chiều tà, cảnh đã khác. Các từ láy *“tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ”* vừa gợi hình dáng nhỏ bé, êm dịu của cảnh vật, vừa diễn tả tâm trạng bâng khuâng, nuối tiếc, một nỗi buồn man mác của con người khi cuộc vui đã tàn. Đây chính là bút pháp tả cảnh ngụ tình: cảnh vật mang tâm trạng của lòng người (“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”).

→ Thiên nhiên trong đoạn trích vừa là bức tranh xuân đẹp đẽ, trong trẻo, vừa là phương tiện để nhà thơ gửi gắm cảm xúc của con người.

## c. Những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật

Về nội dung:
- Đoạn trích vẽ nên một bức tranh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, sống động.
- Qua đó thể hiện tâm hồn nhạy cảm, tình yêu thiên nhiên và cuộc sống của chị em Thúy Kiều cũng như của chính Nguyễn Du.

Về nghệ thuật:
- Bút pháp tả cảnh kết hợp tả cảnh ngụ tình, tả cảnh theo trình tự thời gian và không gian hợp lí.
- Bút pháp chấm phá, gợi tả tinh tế, chọn lọc hình ảnh tiêu biểu (cánh én, cỏ non, hoa lê…).
- Ngôn ngữ giàu chất tạo hình và biểu cảm: sử dụng nhiều từ ghép, từ láy (nô nức, dập dìu, tà tà, thanh thanh, nao nao…) và biện pháp so sánh, ẩn dụ (*“Ngựa xe như nước áo quần như nêm”*) làm cảnh vật, con người hiện lên sinh động.
- Thể thơ lục bát uyển chuyển, nhịp nhàng, kết hợp màu sắc hài hòa tạo nên vẻ đẹp cổ điển cho đoạn thơ.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.