Giải Câu hỏi trang 98 SGK Ngữ văn 9
Đề bài
NGỮ LIỆU: Phương Đông – trong đó có Việt Nam – trên đại thể có truyền thống sống hài hoà với tự nhiên. Người Việt Nam dựa vào tự nhiên mà làm ăn và đánh giặc. "Trông trời, trông đất, trông mây/ Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…". Theo thuyết tính linh, vạn vật đều có hồn: Hồ Gươm – Hồ Tây, núi Nùng, sông Nhị, nơi "lắng hồn núi sông ngàn năm" (Nguyễn Đình Thi); "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" (Nguyễn Du); vui "tình cá nước", "hoa cười", cây "ngả nghiêng chào"; ứng xử tế nhị "nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa"; thậm chí tín mê "thần cây đa, ma cây gạo…" với tục thờ cây cối… […]
Theo dõi: Cách tác giả đưa thông tin về "truyền thống sống hài hoà với tự nhiên" của người Việt Nam có điểm gì độc đáo?
Gợi ý trả lời
Yêu cầu: Chỉ ra điểm độc đáo trong cách tác giả đưa thông tin về "truyền thống sống hài hoà với tự nhiên" của người Việt Nam.
Đọc kĩ đoạn trích, ta thấy tác giả không trình bày thông tin theo lối giải thích khô khan, trừu tượng mà đưa tin một cách rất sinh động, giàu chất văn. Điểm độc đáo thể hiện ở những phương diện sau:
a) Dẫn ra hàng loạt bằng chứng cụ thể, phong phú từ chính đời sống văn hoá dân tộc để làm sáng tỏ cho ý "sống hài hoà với tự nhiên": từ cách làm ăn ("dựa vào tự nhiên mà làm ăn và đánh giặc"), đến tín ngưỡng (thuyết tính linh, "vạn vật đều có hồn", tục thờ cây cối "thần cây đa, ma cây gạo"), đến ứng xử tế nhị với thiên nhiên ("nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa"). Các bằng chứng xếp liền nhau, dồn dập, tạo sức thuyết phục.
b) Lồng ghép dày đặc ca dao, tục ngữ, thành ngữ và thơ của các tác giả nổi tiếng (Nguyễn Du, Nguyễn Đình Thi) ngay trong mạch văn thông tin: "Trông trời, trông đất, trông mây…", "lắng hồn núi sông ngàn năm", "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ", "tình cá nước", "hoa cười", cây "ngả nghiêng chào"… Việc trích dẫn này vừa chứng minh truyền thống hài hoà với tự nhiên đã in sâu trong tâm hồn, trong ngôn ngữ người Việt, vừa làm cho văn bản thông tin trở nên giàu hình ảnh, gợi cảm, mang đậm màu sắc văn chương.
c) Gắn thông tin với những địa danh, biểu tượng thiên nhiên quen thuộc của dân tộc (Hồ Gươm – Hồ Tây, núi Nùng, sông Nhị) khiến thông tin khái quát trở nên gần gũi, cụ thể và giàu sức gợi, cho thấy thiên nhiên được người Việt xem như một phần đời sống tinh thần, có hồn, có tình.
Kết luận: Cái độc đáo là ở chỗ tác giả trình bày thông tin bằng cách kết hợp nhuần nhuyễn tri thức với vốn văn hoá dân gian và văn học, dùng hàng loạt dẫn chứng – trích dẫn thơ ca, tục ngữ, thành ngữ – vừa chính xác, thuyết phục vừa sinh động, giàu chất trữ tình; nhờ đó mối quan hệ hài hoà giữa người Việt với tự nhiên hiện lên vừa chân thực vừa thấm đẫm cảm xúc.
Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.