Sách giáo khoa Ngữ văn 12 Tập một

Giải Bài 3 trang 89 SGK Ngữ văn 12

Củng cố, mở rộng   Gợi ý trả lời

Đề bài

So sánh nội dung nghị luận và các thao tác được sử dụng ở hai văn bản Năng lực sáng tạo và Mấy ý nghĩ về thơ.

Gợi ý trả lời

So sánh hai văn bản nghị luận *Năng lực sáng tạo* (Phan Đình Diệu) và *Mấy ý nghĩ về thơ* (Nguyễn Đình Thi)

a) Về nội dung nghị luận (vấn đề bàn luận)

- *Năng lực sáng tạo*: Bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học – đời sống xã hội. Tác giả lí giải năng lực sáng tạo là gì, vai trò và tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của con người và xã hội, đồng thời chỉ ra những điều kiện để nuôi dưỡng, phát huy năng lực sáng tạo (tự do tư tưởng, môi trường khuyến khích cái mới, tinh thần hoài nghi khoa học…). Đây là kiểu văn bản nghị luận mang tính khái quát, lí thuyết, hướng tới chân lí khách quan.

- *Mấy ý nghĩ về thơ*: Bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học – nghệ thuật, cụ thể là đặc trưng của thơ. Tác giả nêu quan niệm về bản chất của thơ: thơ là tiếng nói của tâm hồn, biểu hiện của đời sống tâm hồn, cảm xúc con người; bàn về hình ảnh, nhịp điệu, ngôn ngữ thơ và mối quan hệ giữa cảm xúc và tư tưởng trong thơ. Đây là kiểu nghị luận văn học, mang đậm dấu ấn trải nghiệm và rung cảm của người sáng tác.

→ Điểm chung: cả hai đều là văn bản nghị luận bàn về sự sáng tạo của con người (một bên là sáng tạo nói chung trong khoa học – đời sống, một bên là sáng tạo nghệ thuật trong thơ ca); đều thể hiện quan điểm riêng, có chiều sâu tư tưởng và sức thuyết phục cao. Điểm khác: một bên nghiêng về tư duy khoa học – lí trí, một bên nghiêng về tư duy nghệ thuật – cảm xúc.

b) Về các thao tác nghị luận được sử dụng

- *Năng lực sáng tạo*: Sử dụng chủ yếu thao tác giải thích (làm rõ khái niệm "năng lực sáng tạo"), phân tích (chia tách, lí giải các biểu hiện, điều kiện của sáng tạo), chứng minh (dẫn chứng từ khoa học, thực tiễn) và bình luận. Cách lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu tính logic, thiên về lí trí và dẫn chứng khách quan.

- *Mấy ý nghĩ về thơ*: Cũng dùng giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, nhưng nổi bật là thao tác so sánh (so sánh thơ với các thể loại khác, so sánh các quan niệm về thơ) và lối lập luận kết hợp chặt chẽ với cảm xúc, hình ảnh, giọng điệu trữ tình. Dẫn chứng phần lớn lấy từ chính thơ ca, mang tính nghệ thuật, giàu sức gợi.

→ Điểm chung: cả hai đều vận dụng linh hoạt, kết hợp nhiều thao tác nghị luận (giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận) để tăng sức thuyết phục. Điểm khác: *Năng lực sáng tạo* lập luận thiên về logic khoa học, lí lẽ sắc bén; *Mấy ý nghĩ về thơ* lập luận hòa quyện lí lẽ với cảm xúc, hình ảnh, văn phong giàu chất trữ tình, đúng với đặc trưng của người nghệ sĩ bàn về nghệ thuật.

Kết luận: Hai văn bản khác nhau về đề tài (khoa học – đời sống và văn học – nghệ thuật) nhưng gặp gỡ ở chiều sâu tư tưởng về sự sáng tạo; đều dùng hệ thống thao tác nghị luận phong phú, song mỗi văn bản có sắc thái riêng phù hợp với lĩnh vực mà nó bàn tới.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.