Giải Câu 5 trang 68 SGK Ngữ văn 12
Đề bài
Nêu và phân tích một số thao tác nghị luận được tác giả sử dụng nhằm làm tăng tính thuyết phục cho văn bản.
(văn bản: Nhìn về vốn văn hoá dân tộc - Trần Đình Hượu)
Gợi ý trả lời
Mở ý: "Nhìn về vốn văn hoá dân tộc" (trích tiểu luận *Đến hiện đại từ truyền thống*) của Trần Đình Hượu là một văn bản nghị luận giàu sức thuyết phục. Sức thuyết phục ấy một phần lớn đến từ việc tác giả vận dụng linh hoạt và nhuần nhuyễn nhiều thao tác nghị luận. Có thể nêu và phân tích một số thao tác tiêu biểu sau:
a) Thao tác phân tích
- *Biểu hiện:* Tác giả không nói chung chung về văn hoá dân tộc mà chia tách "vốn văn hoá" thành nhiều bình diện cụ thể để xem xét: tôn giáo, nghệ thuật (kiến trúc, hội hoạ, văn học), ứng xử (giao tiếp, cộng đồng), sinh hoạt (ăn, ở, mặc), quan niệm sống, lí tưởng… Ở mỗi bình diện, ông lại chỉ ra những đặc điểm riêng của người Việt (ví dụ: tôn giáo thì "không cuồng tín", nghệ thuật thì "không có công trình kiến trúc đồ sộ", quan niệm sống thì coi trọng sự yên ổn, "khôn khéo", chuộng cái "vừa phải", "hợp tình hợp lí"…).
- *Tác dụng:* Chia nhỏ đối tượng giúp vấn đề vốn trừu tượng, rộng lớn trở nên cụ thể, rõ ràng, có thể kiểm chứng; người đọc theo dõi được từng khía cạnh một cách mạch lạc, nhờ đó nhận định của tác giả có cơ sở và đáng tin.
b) Thao tác so sánh
- *Biểu hiện:* Để làm nổi bật đặc trưng văn hoá Việt, tác giả thường đặt văn hoá dân tộc bên cạnh các nền văn hoá khác (Trung Hoa, Ấn Độ, phương Tây). Chẳng hạn: so với những dân tộc có tôn giáo mạnh, người Việt "không mê tín, cuồng tín"; so với những nền văn hoá có công trình kì vĩ, văn hoá Việt thiên về cái nhỏ nhắn, tinh tế, "xinh xắn" hơn là lớn lao, tráng lệ.
- *Tác dụng:* So sánh đối chiếu giúp làm bật lên cái riêng, cái bản sắc của văn hoá Việt một cách khách quan; đồng thời cho thấy tác giả có tầm nhìn rộng, đánh giá dân tộc trong tương quan với thế giới chứ không khen chê một chiều, nên lập luận càng thêm sức nặng.
c) Thao tác bình luận (đánh giá)
- *Biểu hiện:* Bên cạnh việc nêu đặc điểm, tác giả đưa ra những nhận định, đánh giá có tính hai mặt, biện chứng. Ông chỉ ra cả mặt mạnh lẫn mặt hạn chế của vốn văn hoá dân tộc: sự dung hoà, thiết thực, linh hoạt là ưu điểm, nhưng tâm lí chuộng "vừa phải", ngại cái gì quá khổ, thiếu khát vọng sáng tạo lớn lao… cũng là điều cần nhìn thẳng.
- *Tác dụng:* Cách bình luận điềm tĩnh, khách quan, không tô hồng cũng không phủ nhận, tạo cho văn bản thái độ trung thực, khoa học; người đọc tin vào sự công tâm của người viết.
d) Thao tác chứng minh
- *Biểu hiện:* Các nhận định của tác giả luôn được đỡ bằng những dẫn chứng lấy từ thực tế đời sống, phong tục, nghệ thuật, lịch sử dân tộc (lối sống trọng tình, cách ăn ở giản dị, các công trình nghệ thuật nhỏ nhắn mà tinh tế…).
- *Tác dụng:* Dẫn chứng cụ thể, gần gũi làm cho lí lẽ không khô khan, trừu tượng mà có sức minh hoạ, khiến kết luận trở nên đáng tin.
Đánh giá chung: Bốn thao tác trên (phân tích, so sánh, bình luận, chứng minh) được tác giả phối hợp nhuần nhuyễn: phân tích để làm rõ, so sánh để làm nổi bật, chứng minh để tạo cơ sở, bình luận để đánh giá. Nhờ vậy, văn bản vừa chặt chẽ, khoa học, vừa khách quan, thấu đáo, tạo nên sức thuyết phục cao.
Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.