Sách giáo khoa Ngữ văn 12 Tập một

Giải Câu 2 trang 146 SGK Ngữ văn 12

Giấu của (trích Quẫn, Lộng Chương)   Gợi ý trả lời

Đề bài

Phân tích tính trào phúng trong ngôn ngữ đối thoại của hai nhân vật.
(văn bản: Giấu của (trích vở hài kịch Quẫn) - Lộng Chương)

Gợi ý trả lời

Phân tích tính trào phúng trong ngôn ngữ đối thoại của hai nhân vật (ông bà Đại Cát) trong đoạn trích *Giấu của* (trích hài kịch *Quẫn* – Lộng Chương)

Trào phúng là nghệ thuật dùng tiếng cười để phê phán, châm biếm những thói hư tật xấu. Trong đoạn trích, Lộng Chương để cho chính ngôn ngữ đối thoại của hai vợ chồng ông bà Đại Cát tự phơi bày bản chất keo kiệt, tham lam, lạc hậu của tầng lớp tư sản, qua đó bật lên tiếng cười phê phán. Có thể phân tích trên các phương diện sau:

a) Ngôn ngữ bộc lộ sự mâu thuẫn giữa lời nói và bản chất – nguồn gốc của tiếng cười.
Hai nhân vật luôn miệng nói những lời đạo đức, tình nghĩa, nhưng thực chất mọi suy nghĩ đều quy về chuyện giữ của. Lời lẽ bề ngoài thì khách sáo, kiểu cách, còn nội dung bên trong lại lộ rõ sự tính toán, run sợ mất tài sản. Chính sự lệch pha giữa hình thức trang trọng của lời nói và nội dung nhỏ nhen, vụ lợi của nó tạo nên tiếng cười mỉa mai: người đọc, người xem thấy ngay sự giả tạo, lố bịch của nhân vật.

b) Ngôn ngữ giàu tính khoa trương, cường điệu, biến chuyện giấu của thành một "đại sự".
Hai vợ chồng bàn bạc, tính toán nơi cất giấu vàng bạc, của chìm của nổi một cách hệ trọng như đang lo một việc lớn lao, thiêng liêng. Giọng điệu căng thẳng, hồi hộp, những lời dặn dò kỹ lưỡng đặt cạnh một mục đích tầm thường (cất giấu của cải cho riêng mình) tạo nên sự tương phản gây cười. Cái "to tát" trong cách nói đối lập với cái "nhỏ mọn" trong động cơ, khiến nhân vật tự hạ thấp mình thành trò hề.

c) Ngôn ngữ thể hiện tâm lí hốt hoảng, nghi kị, bất an – vừa gây cười vừa đả kích.
Trong đối thoại, hai nhân vật thường nói nhanh, ngắt quãng, hỏi đi hỏi lại, nghi ngờ lẫn nhau và nghi ngờ cả người ngoài. Cách nói lắp bắp, dò xét, giật mình đó bộc lộ nỗi ám ảnh thường trực về việc bị lộ, bị mất của. Tiếng cười ở đây vừa hài hước (trước dáng vẻ cuống quýt) vừa châm biếm (phê phán sự bám víu mù quáng vào của cải của tầng lớp tư sản trước thời cuộc đổi thay).

d) Ngôn ngữ cá thể hóa, khắc họa quan hệ vợ chồng vì tiền mà xét nét nhau.
Lời đối đáp qua lại giữa ông và bà Đại Cát nhiều khi là sự tranh cãi, đùn đẩy, trách móc nhau quanh chuyện cất giấu và quản lí của cải. Tình nghĩa vợ chồng bị chi phối, méo mó bởi đồng tiền; đối thoại trở thành cuộc "so đo" lẫn nhau. Qua đó, nhà viết kịch dùng tiếng cười để hạ bệ lối sống coi vật chất cao hơn tình người, phê phán sự tha hóa về nhân cách.

Nghệ thuật tạo tiếng cười: Lộng Chương sử dụng các thủ pháp quen thuộc của hài kịch: tạo tình huống mâu thuẫn, dùng lời thoại tự bộc lộ (nhân vật tự tố cáo mình), cường điệu, phóng đại và tương phản giữa lời nói với bản chất, giữa cái trang trọng với cái tầm thường. Ngôn ngữ đối thoại vì thế vừa sinh động, đời thường, vừa sắc sảo, mang đậm tính trào phúng.

Kết luận: Qua ngôn ngữ đối thoại của ông bà Đại Cát, tác giả bật lên tiếng cười châm biếm nhằm phê phán bản chất keo kiệt, tham lam, lạc hậu, ích kỉ của tầng lớp tư sản trước công cuộc cải tạo xã hội; đồng thời cho thấy tài năng xây dựng ngôn ngữ kịch giàu kịch tính và sức tố cáo của Lộng Chương.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.