Giải Bài 4 trang 84 SGK Ngữ văn 12
Đề bài
Người viết dùng những yếu tố bổ trợ nào để thuyết phục người đọc về vấn đề được bàn đến trong thư?
(văn bản: Người viết thư (Các bức thư hay nhất thế giới – Kỉ niệm 50 năm cuộc thi viết thư quốc tế UPU (1971 – 2021), NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2022))
Gợi ý trả lời
Văn bản *Người viết thư* là một bức thư nghị luận: để làm sáng tỏ và thuyết phục người đọc về vấn đề bàn luận, bên cạnh hệ thống lí lẽ và bằng chứng, người viết đã vận dụng linh hoạt các yếu tố bổ trợ (tự sự, miêu tả, biểu cảm). Có thể chỉ ra như sau:
a) Yếu tố tự sự (kể chuyện)
Người viết đan xen việc kể lại những câu chuyện, sự việc, những kỉ niệm, trải nghiệm có thật gắn với hình ảnh "người viết thư" và với bức thư. Việc kể chuyện khiến vấn đề bàn luận không khô khan, trừu tượng mà trở nên cụ thể, sinh động; mỗi câu chuyện đóng vai trò như một bằng chứng thực tế minh họa cho luận điểm, nhờ đó lí lẽ có chỗ dựa và sức nặng hơn.
b) Yếu tố miêu tả
Người viết tái hiện những hình ảnh, chi tiết cụ thể (dáng vẻ, cử chỉ của người viết thư; hình ảnh trang thư, nét chữ; không gian, khung cảnh gắn với việc viết và nhận thư…). Nhờ miêu tả, người đọc hình dung rõ đối tượng được nói tới, cảm nhận được giá trị và vẻ đẹp của việc viết thư, từ đó dễ tin và dễ bị thuyết phục hơn.
c) Yếu tố biểu cảm
Đây là yếu tố nổi bật nhất của một bức thư. Người viết trực tiếp bộc lộ tình cảm, cảm xúc chân thành (sự trân trọng, yêu mến, nhớ thương, tiếc nuối…) qua giọng điệu tâm tình, qua các câu cảm thán, lời gọi – đáp hướng tới người đọc. Yếu tố biểu cảm tác động vào tình cảm, khơi gợi sự đồng cảm, đồng điệu nơi người đọc, làm cho sức thuyết phục của bức thư không chỉ đến từ lí trí mà còn đến từ sự lay động của cảm xúc.
Nhận xét chung: Ba yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm được kết hợp nhuần nhuyễn với lí lẽ và bằng chứng. Chúng không làm mờ đi tính nghị luận mà bổ trợ, khiến vấn đề được bàn vừa sáng rõ, cụ thể (nhờ tự sự, miêu tả) vừa thấm thía, giàu sức lay động (nhờ biểu cảm) — đó chính là cách người viết thuyết phục người đọc.
Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.