Sách giáo khoa Sinh học 12

Giải Luyện tập 1 trang 40 SGK Sinh học 12

Bài 7. Cấu trúc và chức năng của nhiễm sắc thể   Đã kiểm chéo

Đề bài

Giải thích tại sao ở kì trung gian, NST lại cần được dãn xoắn tối đa tạo ra các vùng nguyên nhiễm sắc có các nucleosome tách rời nhau?

Lời giải

Giải thích

Ở kì trung gian, tế bào thực hiện hai hoạt động quan trọng với vật chất di truyền: nhân đôi DNA (ở pha S) và phiên mã (tổng hợp RNA để biểu hiện gene). Cả hai quá trình này đều đòi hỏi các enzyme và protein phải tiếp xúc trực tiếp được với phân tử DNA.

a) Để các enzyme tiếp cận được DNA: Khi NST dãn xoắn tối đa tạo thành các vùng nguyên nhiễm sắc (euchromatin), các nucleosome tách rời nhau làm cho sợi DNA được dàn trải, bộc lộ ra ngoài. Nhờ đó các enzyme như DNA polymerase (trong nhân đôi), RNA polymerase và các yếu tố phiên mã mới có thể bám vào, trượt dọc theo mạch khuôn DNA để thực hiện chức năng. Nếu DNA vẫn đóng xoắn chặt (dị nhiễm sắc), các enzyme này không thể tiếp cận được mạch khuôn.

b) Để nhân đôi và phiên mã diễn ra thuận lợi: Ở dạng dãn xoắn, hai mạch của DNA dễ tách nhau ra, tạo điều kiện cho việc tháo xoắn, mở mạch và tổng hợp mạch mới (nhân đôi) hoặc tổng hợp RNA (phiên mã) diễn ra hiệu quả. Đây chính là điều kiện cần thiết để tế bào chuẩn bị cho quá trình phân chia và duy trì hoạt động sống bình thường.

Kết luận: NST cần dãn xoắn tối đa ở kì trung gian để DNA được bộc lộ, giúp các enzyme tiếp cận và thực hiện quá trình nhân đôi DNA cũng như phiên mã (biểu hiện gene) một cách thuận lợi.

Đáp số

Dãn xoắn giúp enzyme tiếp cận trực tiếp mạch khuôn DNA (đpcm)Tạo điều kiện cho nhân đôi DNA và phiên mã diễn ra thuận lợi (đpcm)

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.