Sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập một

Giải Bài 8 trang 101 SGK Ngữ văn 9

Từ "Thằng quỷ nhỏ" của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi (Trần Văn Toàn)   Gợi ý trả lời

Đề bài

Nhận xét về nghệ thuật viết văn nghị luận của tác giả thể hiện ở văn bản (cách đặt vấn đề, tổ chức luận điểm, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng, ngôn ngữ,...).
(văn bản: Từ "Thằng quỷ nhỏ" của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi — Trần Văn Toàn)

Gợi ý trả lời

Văn bản nghị luận văn học của Trần Văn Toàn là một bài viết mẫu mực, thể hiện nghệ thuật lập luận vừa chặt chẽ, sắc sảo vừa mềm mại, giàu sức thuyết phục. Có thể nhận xét trên các phương diện sau:

a) Cách đặt vấn đề

Tác giả không đi thẳng vào việc nêu luận điểm khô khan mà khơi gợi vấn đề một cách tự nhiên, hấp dẫn: xuất phát từ một tác phẩm cụ thể, quen thuộc với bạn đọc nhỏ tuổi là truyện *Thằng quỷ nhỏ* của Nguyễn Nhật Ánh. Từ trường hợp một tác phẩm riêng lẻ, người viết dẫn dắt người đọc suy nghĩ đến một vấn đề khái quát, có tầm lí luận: những phẩm chất cần có của một tác phẩm viết cho thiếu nhi. Cách đặt vấn đề đi từ cụ thể đến khái quát (quy nạp) như vậy khiến vấn đề nghị luận trở nên gần gũi, giàu sức gợi, tránh được sự trừu tượng, áp đặt; đồng thời nhan đề ("Từ… nghĩ về…") đã nêu rõ hướng triển khai của toàn bài.

b) Cách tổ chức (triển khai) hệ thống luận điểm

Hệ thống luận điểm được sắp xếp mạch lạc, có quan hệ chặt chẽ và phát triển theo trình tự hợp lí: tác giả lần lượt phân tích hình tượng nhân vật Quỳnh — "thằng quỷ nhỏ" (ngoại hình kì dị, số phận và cách nhìn của những người xung quanh đối với em), rồi từ đó rút ra, soi sáng những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi (khả năng khám phá thế giới tâm hồn trẻ thơ, cách nhìn nhận con người không dừng ở vẻ bề ngoài, bài học về lòng nhân ái, sự bao dung…). Các luận điểm vừa độc lập vừa liên kết, luận điểm sau được suy ra và nâng cấp từ luận điểm trước, tạo thành một mạch lập luận thống nhất hướng về luận đề chung. Bố cục ba phần (nêu vấn đề – giải quyết vấn đề – kết luận, khái quát) rõ ràng, cân đối.

c) Cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng

Đây là mặt mạnh nổi bật của văn bản. Lí lẽ đưa ra sắc bén, giàu sức khái quát nhưng không cực đoan, thể hiện sự am hiểu sâu sắc về đặc trưng văn học thiếu nhi và tâm lí lứa tuổi. Bằng chứng được lấy trực tiếp, cụ thể từ chính tác phẩm *Thằng quỷ nhỏ* (chi tiết về ngoại hình nhân vật Quỳnh, thái độ của bạn bè, của mọi người…), nên vừa xác thực, vừa sinh động. Lí lẽ và bằng chứng luôn đi liền, gắn bó: mỗi nhận định đều được minh chứng bằng dẫn chứng từ văn bản, và từ dẫn chứng lại nâng lên thành những suy ngẫm có tính lí luận. Nhờ đó, lập luận vừa chặt chẽ, logic, vừa thấm thía, thuyết phục cả về lí trí lẫn tình cảm.

d) Ngôn ngữ

Ngôn ngữ nghị luận chính xác, trong sáng, chặt chẽ nhưng không khô khan mà giàu cảm xúc, thể hiện tình cảm trân trọng, yêu mến của người viết đối với tác phẩm và với thế giới tuổi thơ. Người viết kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ phân tích, lí luận với giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất văn; sử dụng các thao tác phân tích, chứng minh, bình luận linh hoạt. Giọng điệu điềm đạm, khách quan mà vẫn truyền được sự đồng cảm, khiến bài nghị luận văn học không chỉ thuyết phục mà còn lay động người đọc.

Nhận xét chung: Qua các phương diện trên, có thể thấy tác giả Trần Văn Toàn có nghệ thuật viết văn nghị luận văn học điêu luyện: cách đặt vấn đề khéo léo (đi từ cụ thể đến khái quát), hệ thống luận điểm mạch lạc và phát triển hợp lí, lí lẽ sắc bén gắn liền với bằng chứng xác thực lấy từ tác phẩm, ngôn ngữ trong sáng, giàu cảm xúc. Tất cả tạo nên một văn bản nghị luận vừa chặt chẽ, khoa học, vừa giàu sức truyền cảm.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.