Giải Bài 1 trang 115 SGK Ngữ văn 12
Đề bài
NGỮ LIỆU: Trộm nghĩ dời củi khỏi bếp tranh, để phòng cháy trước khi chưa cháy, dùng dâu ràng cửa tổ để ngừa mưa trước lúc chưa mưa. Dân tình dễ chìm đắm vào sự yên vui, còn thế vận khó lòng giữ được luôn bình trị [...]. Thần là kẻ thiếp hèn mọn, tên tự Bích Châu, lúc nhỏ sinh ở bồng môn, khi lớn được hầu nơi tiêu thất [...]. Xin bày tỏ mười điều băn khoăn tấc dạ:
Một là, năng giữ cỗi gốc của nước, trừ hà bạo thì lòng người yên vui.
Hai là, giữ phép xưa bỏ phiền nhiễu thì kỉ cương không rối.
Ba là, nén kẻ quyền thần, để ngăn ngừa chính sự mọt nát.
Bốn là, thải bớt kẻ nhũng lạm để trừ tệ khoét đục của dân.
Năm là, xin cổ động Nho phong, khiến cho đuốc lửa cùng ánh mặt trời soi sáng.
Sáu là, mở đường cho người nói thẳng, để cho cánh cửa của lòng thành cùng với đường can gián đều mở toang.
Bảy là, cách kén quân, nên chú trọng vào dũng lực hơn là cao lớn.
Tám là, chọn tướng nên cầu người thao lược mà không căn cứ vào thế gia.
Chín là, khí giới quý hồ bền sắc, không chuộng văn hoa.
Mười là, trận pháp cốt cho tề chỉnh, cần chi điệu múa.
Mười điều kể trên rất là thiết thực, phơi bày tấm lòng trung, mong được bề trên soi xét. Hay tất làm, dở tất bỏ, vua nghĩ đến chăng! Nước được trị, dân được yên, thiếp mong lắm vậy!
Dựa vào việc tìm hiểu các cước chú trong văn bản Đền thiêng cửa bể, hãy xác định các điển cố trong đoạn trích sau:
Trộm nghĩ dời củi khỏi bếp tranh, để phòng cháy trước khi chưa cháy, dùng dâu ràng cửa tổ để ngừa mưa trước lúc chưa mưa. Dân tình dễ chìm đắm vào sự yên vui, còn thế vận khó lòng giữ được luôn bình trị [...]. Thần là kẻ thiếp hèn mọn, tên tự Bích Châu, lúc nhỏ sinh ở bồng môn, khi lớn được hầu nơi tiêu thất [...]. Xin bày tỏ mười điều băn khoăn tấc dạ:
Một là, năng giữ cỗi gốc của nước, trừ hà bạo thì lòng người yên vui.
Hai là, giữ phép xưa bỏ phiền nhiễu thì kỉ cương không rối.
Ba là, nén kẻ quyền thần, để ngăn ngừa chính sự mọt nát.
Bốn là, thải bớt kẻ nhũng lạm để trừ tệ khoét đục của dân.
Năm là, xin cổ động Nho phong, khiến cho đuốc lửa cùng ánh mặt trời soi sáng.
Sáu là, mở đường cho người nói thẳng, để cho cánh cửa của lòng thành cùng với đường can gián đều mở toang.
Bảy là, cách kén quân, nên chú trọng vào dũng lực hơn là cao lớn.
Tám là, chọn tướng nên cầu người thao lược mà không căn cứ vào thế gia.
Chín là, khí giới quý hồ bền sắc, không chuộng văn hoa.
Mười là, trận pháp cốt cho tề chỉnh, cần chi điệu múa.
Mười điều kể trên rất là thiết thực, phơi bày tấm lòng trung, mong được bề trên soi xét. Hay tất làm, dở tất bỏ, vua nghĩ đến chăng! Nước được trị, dân được yên, thiếp mong lắm vậy!
Gợi ý: Tìm đoạn trích ở tr. 95; theo dõi những cước chú có liên quan để nhận diện được các điển cố. (Điển cố có thể được tác giả sử dụng dưới hình thức nhân danh, địa danh.)
Gợi ý trả lời
Yêu cầu: Dựa vào các cước chú trong văn bản *Đền thiêng cửa bể* (Truyền kì tân phả – Đoàn Thị Điểm, kể về bản tấu *Kê minh thập sách* của Nguyễn Thị Bích Châu dâng vua Trần), hãy chỉ ra các điển cố trong đoạn trích. Điển cố có thể xuất hiện dưới dạng một hình ảnh, một địa danh hay danh xưng mượn từ sử sách, kinh truyện xưa.
Trong đoạn trích, có thể xác định bốn điển cố sau (nằm gọn ở hai câu mở đầu và câu tự giới thiệu của Bích Châu):
a) "Dời củi khỏi bếp tranh, để phòng cháy trước khi chưa cháy" – điển "khúc đột tỉ tân" / "di tân khúc đột" (dời củi, uốn ống khói). Điển lấy từ sách *Hán thư* (truyện Hoắc Quang): có người thấy nhà kia bếp để ống khói thẳng, củi chất ngay cạnh, bèn khuyên uốn cong ống khói và dời củi đi xa để phòng hỏa hoạn; chủ nhà không nghe nên về sau cháy nhà. → Ý nghĩa: phải lo xa, phòng bị tai họa ngay từ khi tai họa chưa xảy ra.
b) "Dùng dâu ràng cửa tổ để ngừa mưa trước lúc chưa mưa" – điển "trù mâu vị vũ" / "vị vũ trù mâu" (ràng buộc tổ khi trời chưa mưa). Điển lấy từ *Kinh Thi* (thiên *Si hào*, phần *Mân phong*): con chim gom rễ cây dâu buộc chặt cửa tổ của mình để chống chọi mưa gió, lo liệu từ lúc trời còn chưa mưa. → Ý nghĩa: giống điển trên – đề cao sự phòng xa, chuẩn bị, củng cố nền móng trước khi biến cố ập đến. Hai điển (a) và (b) đi liền nhau để nhấn mạnh tư tưởng "phòng bị", mở lời cho mười kế sách.
c) "Lúc nhỏ sinh ở bồng môn" – điển "bồng môn" (cửa cỏ bồng). "Bồng môn" là cánh cửa đan, kết bằng cỏ bồng, chỉ nhà nghèo hèn, xuất thân bình dân. → Ý nghĩa: cách nói khiêm nhường của Bích Châu về gốc gác thấp kém của mình ("kẻ thiếp hèn mọn").
d) "Khi lớn được hầu nơi tiêu thất" – điển "tiêu thất" / "tiêu phòng" (nhà/phòng hoa tiêu). Thời Hán, cung của hoàng hậu, phi tần được trát tường bằng hạt tiêu (hoa tiêu) trộn với đất bùn cho vừa ấm, vừa thơm và tượng trưng cho sự con đàn cháu đống; vì thế "tiêu phòng" thành từ chỉ nơi ở của bậc hậu phi trong cung. → Ý nghĩa: chỉ việc Bích Châu được tuyển vào cung, làm cung phi hầu hạ nhà vua.
Nhận xét chung: Bốn điển cố trên cho thấy cách dùng điển dày đặc, hàm súc của văn chương trung đại: (a) và (b) mượn tích sử – kinh để nói đạo lí "lo xa, phòng bị"; (c) và (d) mượn hình ảnh "cửa" và "phòng" (bồng môn – tiêu thất) để tự thuật thân thế từ hàn vi đến chốn cung đình, vừa khiêm nhường vừa làm nổi bật tấm lòng trung với nước của người dâng kế.
Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.