Giải Bài 3 trang 59 SGK Ngữ văn 12
Đề bài
Cho các đề bài sau:
Đề 1: Từ điểm nhìn của thế hệ thanh niên hôm nay, bạn hãy suy nghĩ và phác hoạ chân dung một người thành đạt trẻ tuổi.
Đề 2: Biết trân trọng cái đẹp của người khác cũng là một cách làm đẹp chính mình. Trình bày suy nghĩ của bạn về ý kiến này.
– Lập dàn ý cho một trong hai đề bài trên.
– Chọn một ý mà bạn tâm đắc để viết thành một đoạn văn.
Gợi ý trả lời
## Củng cố, mở rộng – Bài 3 (trang 59)
*Lưu ý cách làm:* Đây là kiểu bài nghị luận xã hội (Đề 1 – nghị luận về một hiện tượng/con người; Đề 2 – nghị luận về một tư tưởng, ý kiến). Sau đây xin chọn Đề 2 để lập dàn ý, rồi chọn một ý tâm đắc viết thành đoạn văn.
### a) Lập dàn ý cho Đề 2
Đề 2: *Biết trân trọng cái đẹp của người khác cũng là một cách làm đẹp chính mình.* Trình bày suy nghĩ của bạn về ý kiến này.
I. Mở bài
- Dẫn dắt: con người luôn hướng tới cái đẹp; nhưng thái độ trước cái đẹp của người khác mới bộc lộ nhân cách mỗi người.
- Nêu vấn đề nghị luận và trích dẫn ý kiến: *“Biết trân trọng cái đẹp của người khác cũng là một cách làm đẹp chính mình.”*
II. Thân bài
*1. Giải thích*
- “Cái đẹp của người khác”: vẻ đẹp hình thức, tài năng, phẩm chất, thành công, cách sống… của người xung quanh.
- “Trân trọng”: thừa nhận, nâng niu, ngợi khen một cách chân thành, không đố kị.
- “Làm đẹp chính mình”: không phải cái đẹp bề ngoài mà là vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách.
→ Ý kiến khẳng định: thái độ biết nhìn nhận và nâng niu cái hay cái đẹp ở người khác chính là biểu hiện và cách bồi đắp vẻ đẹp bên trong của mỗi con người.
*2. Bàn luận – khẳng định tính đúng đắn*
- Vì sao trân trọng cái đẹp của người khác lại làm đẹp chính mình?
- a) Biết trân trọng cái đẹp của người khác chứng tỏ một tâm hồn rộng mở, bao dung, không hẹp hòi, đố kị – đó đã là một vẻ đẹp nhân cách.
-
b) Khi khâm phục cái đẹp, cái giỏi ở người khác, ta có động lực học hỏi, tự hoàn thiện, từ đó bản thân thật sự đẹp hơn, giỏi hơn.
-
c) Người biết khen ngợi chân thành sẽ gieo thiện cảm, gắn kết các mối quan hệ, lan tỏa năng lượng tích cực cho cộng đồng.
- Dẫn chứng: tình bạn tri âm của Nguyễn Khuyến – Dương Khuê; cách người đời nâng niu tài năng của các nghệ sĩ, nhà khoa học; những lời động viên chân thành nơi học đường, công sở… (có thể lấy một dẫn chứng gần gũi trong đời sống của bản thân).
*3. Mở rộng, phản đề*
- Phê phán thói đố kị, ghen ghét, hạ thấp người khác để tự đề cao mình – đó là biểu hiện của sự nghèo nàn trong tâm hồn.
- Trân trọng phải đi đôi với chân thành và tỉnh táo: không xu nịnh giả dối, không ngưỡng mộ mù quáng đến mức đánh mất chính mình.
*4. Bài học nhận thức và hành động*
- Rèn thái độ sống tích cực: biết nhìn ra ưu điểm của người khác, học cái hay, khen điều tốt.
- Biến sự trân trọng thành động lực tự tu dưỡng, hoàn thiện bản thân.
III. Kết bài
- Khẳng định lại: trân trọng cái đẹp của người khác là một lối ứng xử văn hóa, một cách tự làm giàu, làm đẹp tâm hồn mình.
- Liên hệ bản thân (tuổi trẻ cần học cách ngưỡng mộ lành mạnh thay cho đố kị).
###
b) Chọn một ý tâm đắc viết thành đoạn văn
*Ý tâm đắc:* Biết trân trọng cái đẹp của người khác chính là biểu hiện của một tâm hồn rộng mở, và chính sự rộng mở ấy làm nên vẻ đẹp của ta.
Có một nghịch lí thú vị: khi ta cúi đầu thán phục cái đẹp ở người khác, chính ta lại trở nên cao hơn. Bởi trân trọng cái hay, cái đẹp của người khác đòi hỏi một tâm hồn đủ rộng để không thấy mình bị che khuất, đủ trong để không gợn lên bóng dáng của lòng đố kị. Người biết reo lên trước một bức tranh đẹp, biết lặng đi trước một tấm lòng tử tế, biết chân thành vỗ tay cho thành công của bạn bè – người ấy đã tự chứng minh tâm hồn mình phong phú và hào phóng biết bao. Ngược lại, kẻ chỉ chực chờ dìm người khác xuống để tôn mình lên thật ra đang phơi bày sự chật hẹp, nghèo nàn bên trong. Hơn thế, mỗi lần ngưỡng mộ một điều tốt đẹp, ta lại nhận về một tấm gương để soi mình và một đích đến để vươn tới; cái đẹp của người khác, vì vậy, trở thành chất liệu nuôi lớn cái đẹp của chính ta. Thế nên, học cách trân trọng người khác không khiến ta nhỏ đi, mà lặng lẽ bồi đắp cho ta một vẻ đẹp bền vững nhất – vẻ đẹp của nhân cách.
*(Đoạn văn trên viết theo lối diễn dịch – câu chủ đề nêu đầu đoạn, các câu sau triển khai lí lẽ và phản đề, câu cuối khép lại khẳng định vấn đề.)*
Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.