Sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập một

Giải Bài 1 trang 71 SGK Ngữ văn 9

Thực hành tiếng Việt (Chữ Nôm)   Gợi ý trả lời

Đề bài

Theo em, với việc sáng tạo chữ Nôm, ông cha ta đã thể hiện những tư tưởng, khát vọng gì?

Gợi ý trả lời

Bài 1 (trang 71) — Thực hành tiếng Việt: Chữ Nôm

Phân tích đề: Câu hỏi yêu cầu nêu những tư tưởng, khát vọng mà ông cha ta gửi gắm qua việc sáng tạo chữ Nôm. Chữ Nôm là chữ viết do người Việt dựa trên chất liệu chữ Hán mà tạo ra để ghi lại tiếng nói của dân tộc mình. Từ việc làm đó, có thể thấy:

a) Khát vọng về một nền văn hóa, ngôn ngữ độc lập, tự chủ của dân tộc.
Trong suốt thời gian dài phải dùng chữ Hán (chữ của phương Bắc) làm văn tự chính thức, ông cha ta đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi âm tiếng Việt. Điều đó thể hiện ý thức dân tộc sâu sắc: người Việt có tiếng nói riêng thì cần có chữ viết riêng để ghi lại, không hoàn toàn lệ thuộc vào văn tự ngoại lai. Đây là biểu hiện của tinh thần tự tôn, tự chủ về văn hóa, song hành với khát vọng độc lập về chính trị.

b) Lòng tự hào, trân trọng và ý thức giữ gìn tiếng nói của dân tộc.
Việc tạo ra chữ Nôm cho thấy ông cha ta coi tiếng Việt là tài sản quý giá, xứng đáng được ghi chép, lưu giữ và phát triển. Nhờ chữ Nôm, tiếng nói, tâm hồn, tình cảm của người Việt được thể hiện một cách trực tiếp, sinh động trong văn chương (như "Truyện Kiều", thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương…), góp phần khẳng định và làm giàu bản sắc văn hóa Việt.

c) Tư tưởng đề cao, phát triển nền văn học, văn hóa nước nhà bằng chính ngôn ngữ dân tộc.
Chữ Nôm mở đường cho một nền văn học viết bằng tiếng mẹ đẻ, đưa văn chương đến gần hơn với đời sống và tâm tư của nhân dân. Qua đó thể hiện khát vọng xây dựng một nền văn hiến riêng, sánh ngang với các nước, chứng tỏ trí tuệ, tài năng sáng tạo và sức sống bền bỉ của dân tộc Việt Nam.

Khái quát: Việc sáng tạo chữ Nôm thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần tự tôn, tự chủ về văn hóa; lòng yêu quý, giữ gìn tiếng nói dân tộc; cùng khát vọng độc lập và xây dựng một nền văn hóa, văn học riêng, giàu bản sắc của người Việt.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.