Giải Câu 2 trang 58 SGK Ngữ văn 9
Đề bài
Trong bài nghị luận, tác giả đã trình bày những luận điểm nào? Nêu mối quan hệ giữa các luận điểm đó.
(văn bản: Bài nghị luận về bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu (Phan Huy Dũng))
Gợi ý trả lời
a) Các luận điểm trong bài nghị luận
Trong văn bản nghị luận về bài thơ *Vội vàng*, tác giả Phan Huy Dũng đã triển khai ba luận điểm chính, bám sát mạch cảm xúc của bài thơ:
- Luận điểm 1: Bài thơ thể hiện một tình yêu cuộc sống trần thế hết sức thiết tha, nồng nhiệt của Xuân Diệu. Nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống nơi trần thế như một “bữa tiệc”, một thiên đường ngay trên mặt đất, với bao điều quyến rũ (ong bướm, hoa lá, yến anh, ánh sáng, mùa xuân…), nên đã nảy sinh khát vọng muốn níu giữ, đoạt lấy vẻ đẹp ấy.
- Luận điểm 2: Chính vì yêu đời, ham sống nên nhà thơ càng băn khoăn, lo âu trước sự trôi chảy không ngừng của thời gian và sự ngắn ngủi, mong manh của kiếp người. Xuân Diệu đưa ra một quan niệm mới mẻ về thời gian: thời gian tuyến tính, một đi không trở lại; tuổi trẻ và mùa xuân của đời người thì hữu hạn, nên mỗi khoảnh khắc trôi qua đều là một sự mất mát, chia phôi.
- Luận điểm 3: Từ nhận thức ấy, nhà thơ đi tới một thái độ sống tích cực: phải sống “vội vàng”, cuống quýt, chạy đua với thời gian để tận hưởng và tận hiến, sống mãnh liệt, hết mình, trân trọng từng giây phút của cuộc đời, nhất là của tuổi trẻ.
b) Mối quan hệ giữa các luận điểm
Ba luận điểm trên có quan hệ chặt chẽ, logic, theo trình tự lập luận tăng tiến và tuân theo đúng mạch cảm xúc của bài thơ (yêu đời → tiếc nuối thời gian → giục giã sống vội vàng). Quan hệ giữa chúng là quan hệ nhân – quả, cái trước làm tiền đề, cơ sở cho cái sau: *vì* yêu cuộc sống trần thế tha thiết (LĐ1) nên mới *lo sợ* thời gian trôi, đời người ngắn ngủi (LĐ2); và chính vì nhận ra điều đó nên mới *nảy sinh* khát vọng sống vội vàng để tận hưởng, tận hiến (LĐ3). Nhờ vậy, các luận điểm liên kết, bổ sung cho nhau, cùng làm nổi bật tư tưởng chủ đạo của bài thơ và tạo nên tính thuyết phục, chặt chẽ cho bài nghị luận.
Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.