Sách giáo khoa Ngữ văn 12 Tập một

Giải Bài 2 trang 57 SGK Ngữ văn 12

Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ   Gợi ý trả lời

Đề bài

Bài viết triển khai các nội dung so sánh, đánh giá như thế nào? Bạn có nhận xét gì về hiệu quả của cách triển khai đó?
(văn bản: Bài viết tham khảo (so sánh, đánh giá cảm hứng mùa thu trong hai bài thơ Thu vịnh và Đây mùa thu tới))

Gợi ý trả lời

Nhận diện yêu cầu: Đây là câu hỏi đọc hiểu phần *Viết* (bài So sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ, Ngữ văn 12, tập một, Kết nối tri thức, tr. 57), yêu cầu phân tích cách triển khai nội dung so sánh – đánh giá của bài viết tham khảo (so sánh cảm hứng mùa thu trong *Thu vịnh* của Nguyễn Khuyến và *Đây mùa thu tới* của Xuân Diệu) và nhận xét về hiệu quả của cách triển khai ấy.

a) Bài viết triển khai các nội dung so sánh, đánh giá như thế nào?

- Xác lập cơ sở so sánh ngay ở phần mở đầu. Người viết giới thiệu hai bài thơ cùng viết về mùa thu – một đề tài quen thuộc của thơ ca – và nêu rõ *tiêu chí* (phương diện) sẽ so sánh: cảm hứng mùa thu được thể hiện ở mỗi tác phẩm. Việc nêu cơ sở chung (cùng đề tài, cùng mạch cảm xúc trước mùa thu) giúp hai đối tượng trở nên "có thể so sánh được".

- Triển khai theo từng phương diện, kết hợp chỉ ra điểm tương đồng và điểm khác biệt. Thân bài không phân tích tách rời từng bài rồi mới ghép lại một cách rời rạc, mà đối sánh song song trên những bình diện cụ thể:
+ *Điểm gặp gỡ (tương đồng):* cả hai đều là tiếng lòng của một hồn thơ tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên; đều lấy mùa thu làm điểm tựa để bộc lộ tâm trạng, nỗi niềm.
+ *Điểm khác biệt (nổi bật, được tô đậm):* mùa thu trong *Thu vịnh* mang vẻ thanh sơ, tĩnh lặng, cổ điển với hệ thống hình ảnh, thi liệu quen thuộc (trời thu, nước biếc, cần trúc, ánh trăng…), gợi tâm thế ung dung, thanh cao mà u hoài của nhà nho ẩn dật; còn mùa thu trong *Đây mùa thu tới* lại thấm đẫm cảm giác tàn phai, chia li, vận động, biến chuyển, nhuốm nỗi buồn và cái "tôi" cá nhân cùng ý thức khắc khoải về thời gian của thơ hiện đại.

- Lồng đánh giá vào quá trình so sánh, có lí giải nguyên nhân. Mỗi lần chỉ ra khác biệt, người viết đều đánh giá giá trị và cắt nghĩa sự khác biệt ấy bằng các căn cứ xác đáng: khác biệt về thời đại và phạm trù thẩm mĩ (thơ trung đại – Thơ mới), về quan niệm nghệ thuật, phong cách và cái nhìn về con người, thời gian của mỗi tác giả. Nhờ đó so sánh không dừng ở việc liệt kê giống – khác mà hướng tới nhận định về nét độc đáo, đóng góp riêng của từng tác phẩm.

- Khái quát, nâng cao ở phần kết. Bài viết khẳng định mỗi bài thơ là một cách cảm nhận mùa thu riêng, tiêu biểu cho hai giai đoạn thơ ca, qua đó thấy được sự vận động của đề tài mùa thu và vẻ đẹp riêng không thay thế được của mỗi hồn thơ.

→ *Tóm lại:* bài viết triển khai bằng cách nêu cơ sở so sánh → đối sánh song song theo từng phương diện (tương đồng, khác biệt) → đánh giá và lí giải nguyên nhân khác biệt → khái quát, nâng cao, luôn bám sát một trục xuyên suốt là cảm hứng mùa thu.

b) Nhận xét về hiệu quả của cách triển khai đó

- Mạch lạc, chặt chẽ, đúng đặc trưng kiểu bài so sánh: nhờ có tiêu chí so sánh rõ ràng và cách đối sánh song song, bài viết tránh được lỗi phân tích rời rạc hai tác phẩm; người đọc dễ theo dõi, thấy được sự tương quan trực tiếp giữa hai bài thơ.
- Làm nổi bật nét riêng của mỗi tác phẩm: cách tô đậm điểm khác biệt giúp khắc sâu cá tính sáng tạo và vẻ đẹp độc đáo của *Thu vịnh* và *Đây mùa thu tới*, đồng thời cho thấy sự khác nhau giữa mĩ cảm trung đại và hiện đại.
- Có chiều sâu, thuyết phục: việc gắn so sánh với đánh giá và lí giải (bằng bối cảnh thời đại, phong cách tác giả) khiến các nhận định có căn cứ, không áp đặt, tránh khen chê chung chung.
- Có tính khái quát: phần nâng cao giúp bài viết vượt khỏi phạm vi hai văn bản để nói tới sự vận động của một đề tài trong tiến trình thơ ca, tăng giá trị gợi mở.

→ Cách triển khai này đạt hiệu quả cao, vừa bảo đảm yêu cầu *so sánh – đánh giá*, vừa giàu sức thuyết phục và có sức khái quát, là mẫu mực để người học vận dụng khi viết bài so sánh hai tác phẩm thơ.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.