Chuyên đề học tập Giáo dục kinh tế và pháp luật 12

Giải Câu hỏi trang 43 Chuyên đề Giáo dục kinh tế và pháp luật 12

Thành tựu và hạn chế trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam   Gợi ý trả lời

Đề bài

NGỮ LIỆU: Hội nhập kinh tế quốc tế chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững của nền kinh tế; mức độ đổi mới tư duy, sáng tạo trong suy nghĩ, quyết liệt trong hành động chưa thực sự cao.
(Theo Nghị quyết số 93/NQ-CP của Chính phủ về Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững giai đoạn 2023 – 2030, ngày 5 – 7 – 2023)

1/ Em hãy nêu một số dẫn chứng thực tế minh hoạ cho những thành tựu đạt được trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đề cập ở thông tin 1.

2/ Theo em, thông tin 2 đề cập đến những hạn chế nào của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế? Hãy nêu ví dụ thực tế làm rõ thêm hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế nước ta và cho biết điều đó ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả hội nhập.

Gợi ý trả lời

1/ Một số dẫn chứng thực tế minh hoạ cho những thành tựu đạt được trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam (thông tin 1):

a) Mở rộng quan hệ thương mại, ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA): Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU), RCEP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực)... Nhờ đó, hàng hoá Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan, mở rộng thị trường xuất khẩu ra hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.

b) Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, cán cân thương mại xuất siêu: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam liên tục tăng, nhiều năm vượt mốc hàng trăm tỉ USD và duy trì xuất siêu. Nhiều mặt hàng như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may, giày dép, nông sản (gạo, cà phê, thuỷ sản)... trở thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có mặt ở các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc.

c) Thu hút mạnh vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các tập đoàn lớn trên thế giới (như Samsung, Intel, LG, Apple qua các đối tác...). Dòng vốn FDI góp phần tạo việc làm, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

d) Nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam: Việt Nam tham gia tích cực và có trách nhiệm trong các tổ chức, diễn đàn kinh tế quốc tế như WTO, ASEAN, APEC, đảm nhận thành công nhiều vai trò quan trọng (Chủ tịch ASEAN, Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc...), góp phần khẳng định vị thế đất nước trên trường quốc tế.

2/ Những hạn chế của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế được đề cập ở thông tin 2:

Nghị quyết số 93/NQ-CP chỉ ra những hạn chế sau:

a) Hội nhập kinh tế quốc tế chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững của nền kinh tế. Nghĩa là quá trình hội nhập mới chỉ chú trọng mở rộng về quy mô, số lượng (nhiều hiệp định, kim ngạch lớn) mà chưa thực sự đi vào chiều sâu, chưa chuyển hoá đầy đủ các cơ hội từ hội nhập thành chất lượng và hiệu quả tăng trưởng, chưa gắn với mục tiêu phát triển bền vững.

b) Mức độ đổi mới tư duy, sáng tạo trong suy nghĩ, quyết liệt trong hành động chưa thực sự cao. Nghĩa là tư duy về hội nhập ở một số ngành, địa phương, doanh nghiệp còn chậm đổi mới, thiếu sáng tạo; việc tổ chức thực hiện các cam kết hội nhập đôi khi còn thiếu quyết liệt, chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới.

Ví dụ thực tế làm rõ thêm hạn chế và ảnh hưởng đến hiệu quả hội nhập:

- Ví dụ 1 (về chất lượng, giá trị gia tăng thấp): Nhiều ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, điện tử... chủ yếu vẫn ở khâu gia công, lắp ráp, phụ thuộc nhiều vào nguyên phụ liệu, linh kiện nhập khẩu. Vì vậy giá trị gia tăng tạo ra trong nước còn thấp, doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu chủ yếu ở những khâu có lợi nhuận thấp. → *Ảnh hưởng:* lợi ích thu được từ hội nhập chưa tương xứng với quy mô kim ngạch, nền kinh tế dễ bị tổn thương khi chuỗi cung ứng toàn cầu gián đoạn, làm giảm hiệu quả và tính bền vững của hội nhập.

- Ví dụ 2 (về sức cạnh tranh và sự chủ động của doanh nghiệp trong nước): Khi các FTA có hiệu lực, hàng hoá nước ngoài chất lượng cao được nhập khẩu với thuế suất thấp, tạo sức ép cạnh tranh lớn ngay trên thị trường nội địa. Nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, do chậm đổi mới công nghệ, quản trị và chưa nắm vững các cam kết nên chưa tận dụng được ưu đãi, thậm chí bị thua ngay trên “sân nhà”. → *Ảnh hưởng:* làm giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, khiến cơ hội từ hội nhập không được khai thác đầy đủ, hiệu quả hội nhập bị hạn chế.

Kết luận: Những hạn chế trên cho thấy nếu không đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp hỗ trợ và chủ động, quyết liệt trong hành động, thì Việt Nam khó chuyển hoá các cơ hội của hội nhập thành kết quả thực chất, làm giảm hiệu quả và tính bền vững của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.